DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT

TỔNG HỢP 12 BẢN ÁN GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN
Ngày đăng: 07/10/2021

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 12 BẢN ÁN GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN” do các Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP BẢN ÁN GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN

STT

NỘI DUNG BẢN ÁN

SỐ TRANG

01

Bản án số 147/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

Nội dung vụ án: Ngày 30/3/2019, tại nhà ông N, bà TN thì bà T và ông N, bà TN đã thỏa thuận cam kết chuyển nhượng, mua bán nhà và đất của ông N, bà TN. Khi giao dịch, ông Th và bà L chứng kiến; ông Th viết dùm “Giấy tạm ứng tiền” cho việc thỏa thuận mua bán 280m2 đất và tài sản trên đất trị giá 2,5 tỷ đồng.

Tuy nhiên, do nhầm lẫn trong diện tích ghi trong bìa đỏ cũ, sau khi làm bìa đỏ thì diện tích thửa đất chỉ còn 196,4m2 nên bà T không đồng ý. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông N thực hiện chuyển nhượng, mua bán tài sản theo đúng giấy thỏa thuận với diện tích đất 280m2, trường hợp thiếu diện tích thì giá chuyển nhượng giảm xuống thành 2.3 tỷ đồng hoặc trả tiền cọc và bị phạt cọc 200 triệu đồng.

Nhận định của Tòa án: Đối chiếu kết quả tranh tụng tại phiên tòa với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để xác định, khi ký kết giao dịch đặt cọc, các bên đã nhầm lẫn về diện tích đất chuyển nhượng trong giấy tờ và diện tích đất chuyển nhượng trên thực tế.

Sự nhầm lẫn về diện tích quyền sử dụng đất từ việc mua bán, chuyển nhượng trong giấy tờ là 280m2 xuống diện tích thực tế được phép chuyển nhượng, mua bán 196m2 dẫn đến mục đích ký kết hợp đồng đặt cọc (để ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và mua bán nhà) giữa hai bên không thực hiện được.

Tại thời điểm xét xử các bên không khắc phục được sự nhầm lẫn trên và không thỏa thuận được việc tiếp tục ký kết, lập hồ sơ sang tên việc mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nhà số AA đường TD, thành phố TK. Theo đó, căn cứ Điều 126 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xác định giao dịch đặt cọc thể hiện bằng “Giấy tạm ứng tiền” của các bên lập ngày 30 tháng 3 năm 2019 vô hiệu do bị nhầm lẫn.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Xác định giao dịch dân sự đặt cọc bằng hình thức “Giấy tạm ứng tiền” do bà Nguyễn Thị T, ông Phan Đình N, bà Nguyễn Thị T.N lập vào ngày 30 tháng 3 năm 2019 vô hiệu do bị nhầm lẫn;

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phan Đình N, bà Nguyên Thị T.N phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 200 triệu đồng;

- Không chấp nhận phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn nộp phạt cọc 200 triệu đồng.

01 - 05

02

Bản án số 120/2019/DS-PT ngày 03/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

Về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”

Nội dung vụ án: Chi nhánh 4 Công ty C huy động vốn của các cá nhân và doanh nghiệp để sản xuất, kinh doanh phân chia lợi nhuận. Ông T và ông D là một trong những cá nhân góp vốn. Sau đó, bà Phương (vừa là Giám đốc Chi nhánh, vừa làm Giám đốc Công y) đã vi phạm cam kết theo hợp đồng, không trả lương và không chia lợi nhuận cho các thành viên góp vốn.

Sau khi bà Phương ra thông báo về kết quả sản xuất bị lỗ khoảng 2 tỷ đồng và yêu cầu các thành viên góp thêm vốn để bù lỗ và để có vốn kinh doanh tiếp tục thì ông T và ông D đã nộp đơn khởi kiện, yêu cầu tuyên bố Hợp đồng góp vốn số 02-2013/HĐGV/CP ngày 01/7/2013 vô hiệu, yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Ông T và ông D cho rằng: giữa Công ty C với ông T, ông D và Công ty Toàn Năng Phát là vô hiệu, do vi phạm điều cấm của pháp luật, do lừa dối, do nhầm lẫn. Vì, đối tượng của hợp đồng góp vốn kinh doanh là khai thác nhưng Công ty C không phải là chủ sở hữu của quyền khai thác mỏ đá Thường Tân II, mà là Công ty Long Sơn.

Theo Luật Khoáng sản cấm việc cho khai thác lại khi chưa có được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền cấp phép cho Công ty Long Sơn; bà Phương cố tình đưa vào hợp đồng sự lẫn lộn nhiều thỏa thuận: thỏa thuận góp vốn của Luật Doanh nghiệp, thỏa thuận về khoán bán đá thành phẩm và thỏa thuận như là hợp đồng lao động; từ sự lừa dối trên dẫn đến ông T, ông D và Công ty Toàn Năng Phát nhầm lẫn nên đã đi đến ký kết hợp đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T về việc tuyên hợp đồng góp vốn vô hiệu và yêu cầu Công ty C, bà C trả số tiền 606.653.332 đồng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D về việc tuyên hợp đồng góp vốn vô hiệu cùng yêu cầu Công ty C, bà C trả tiền 754.166.666 đồng.

Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của Công ty Toàn Năng Phát về yêu cầu tuyên bố Biên bản góp vốn và Hợp đồng công việc vô hiệu do bị lừa dối và nhầm lẫn. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty T. Sau đó, ông T và ông D kháng cáo.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:

Bản chất nội dung thỏa thuận giữa các bên của các hợp đồng nói trên là hợp đồng hợp tác góp vốn để sử dụng cụ thể vào việc khai thác đá, gia công sản xuất chế biến và tiêu thụ đá thành phẩm.

Công ty Toàn Năng Phát nộp đơn yêu cầu độc lập vào ngày 07/8/2017. Căn cứ vào Điều 136, khoản 1 Điều 410 của Bộ luật D sự 2005, yêu cầu độc lập của Công ty Toàn Năng Phát về yêu cầu tuyên bố hợp đồng góp vốn vô hiệu do bị nhầm lẫn và bị lừa dối là hết thời hiệu khởi kiện.

Do đó, cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 202, Điểm e Khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng D sự 2015 đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu độc lập của Công ty Toàn Năng Phát về yêu cầu Tòa án tuyên bố Biên bản góp vốn và Hợp đồng công việc ngày 14/4/2013 vô hiệu do bị nhầm lẫn và bị lừa dối là có căn cứ.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Tấn T, ông Nguyễn Thành D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

06 - 16

03

Bản án số 35/2019/DS-PT ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng

Về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự có đặt cọc”

Nội dung vụ án: Sau khi được bà S giới thiệu lô đất thuộc sở hữu của ông D, bà H gặp ông H1 (người được ông D ủy quyền chuyển nhượng lô đất) thỏa thuận việc chuyển nhượng và lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ.

Theo đó, nội dung bên nhận đặt cọc là ông H1 với số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi chuyển tiền cọc, ông D mang GCNQSDĐ lên, bà H đối chiếu thì không đúng vị trí. Do có sự nhầm lẫn nên bà đã yêu cầu ông H1 hủy việc đặt cọc và trả lại tiền cọc đã nhận nhưng ông H1 không đồng ý vì cho rằng ông chỉ là người nhận cọc thay cho ông D. Nay bà yêu cầu ông H1 và ông D phải trả lại cho bà 200.000.000 đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô T H. Tuyên giao dịch đặt cọc vô hiệu, buộc ông H1 và ông D phải trả cho bà H số tiền nhận cọc là 190.000.000 đồng.

Sau đó, ông H1 và ông D có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định: Đánh giá về tính hiệu lực của "Hợp đồng đặt cọc" ngày 27/4/2018 giữa bà H và ông H1 thì thấy rằng tại phiên tòa ông H1 thừa nhận việc ông và bà H tiến hành giao kết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhận tiền đặt cọc là được sự ủy quyền của chủ sử dụng đất là ông D.

Việc ủy quyền này chỉ được thực hiện bằng lời nói, giữa ông và ông D chưa làm thủ tục ủy quyền theo quy định của pháp luật mà đến ngày 07/5/2018 hai bên mới đến Văn phòng công chứng T A để làm Hợp đồng ủy quyền.

Trong đó có nội dung ông H1 được quyền thay mặt và nhân danh ông D quản lý, sử dụng, cho thuê (hủy bỏ hợp đồng cho thuê), nhận đặt cọc (hủy bỏ hợp đồng đặt cọc), chuyển nhượng (hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng) đối với quyền sử dụng đất nói trên.

Do vậy việc ông H1 giao dịch với bà H khi chưa có việc ủy quyền của ông D theo quy định của pháp luật đối với giao dịch tài sản là bất động sản là chưa phù hợp. Mặt khác việc giao dịch giữa các bên có sự nhầm lẫn về vị trí lô đất chuyển nhượng, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các bên đều thừa nhận trước khi tiến hành đặt cọc, các bên chưa trực tiếp gặp nhau, thỏa thuận việc chuyển nhượng, chỉ rõ lô đất giao dịch mà chỉ thông qua bà S là người trung gian môi giới dẫn đến có sự mâu thuẫn trong việc trình bày về vị trí lô đất trong thực tế so với phần diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do có sự nhầm lẫn về vị trí đối với tài sản giao dịch, việc các bên tiến hành ký giao kết đặt cọc với nhau chưa tuân thủ hình thức do pháp luật quy định nên vô hiệu toàn bộ. Lỗi dẫn đến việc giao dịch bị vô hiệu thuộc về bị đơn, nay bà H yêu cầu bên chuyển nhượng phải có trách nhiệm trả lại số tiền đã nhận cọc là có căn cứ xem xét.

Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án bà H chỉ yêu cầu bị đơn phải trả lại số tiền 190.000.000đ, xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên cần chấp nhận. Bản án chỉ tuyên buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 190.000.000đ là vi phạm thủ tục tố tụng, tuy nhiên việc vi phạm này không lớn, trong trường hợp hủy án sơ thẩm để giao giải quyết lại cũng không làm thay đổi bản chất của vụ án nên tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung, tuy nhiên cấp sơ thẩm cũng cần rút kinh nghiệm đối với vấn đề này.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của ông H1, không chấp nhận kháng cáo của ông D, sửa bản án sơ thẩm. Tuyên xử Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tô T H đối với ông Nguyễn V H1, ông Kiều V D về việc: “Tranh chấp Hợp đồng dân sự có đặt cọc”. Buộc ông Kiều V D có trách nhiệm trả cho bà Tô T H số tiền 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng).

17 - 23

04

Bản án số 207/2019/DSPT ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển quyền sử dụng đất”

Nội dung vụ án: Ngày 26/11/2017, ông Q và vợ là bà Nguyễn Thanh L3 được bà Hoàng Thị H môi giới mua thửa đất số 735, tờ bản đồ số 24 có diện tích 80,8 m2 tại địa chỉ phường TB, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Phí Thị X.

Ông Q, bà L3 đã coi bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được bà H dẫn đi coi lô đất vào buổi tối, vợ chồng ông đồng ý mua với giá 2.490.000.000 đồng.

Sau khi đặt cọc, ngày 18/12/2017, tại phòng công chứng chuẩn bị ký hợp đồng chuyển nhượng, ông Q nghe bà X nói về phần đất chuyển nhượng thấy lạ nên yêu cầu đi xem lại nhưng lại không đúng lô mà bà H đã chỉ.

Vì vậy, ông Q không đồng ý mua, bà H xác nhận do trời tối nên bà chỉ sai lô. Sau đó, vì chỉ trả lại 50.000.000 đồng tiền cọc. Ông Q Tòa án tuyên bố hợp đồng đặt cọc nhà đất ngày 27/11/2017 giữa ông Q và bà X vô hiệu và yêu cầu bà X trả lại số tiền cọc còn lại 50.000.000 đồng, ngoài ra ông Q không yêu cầu bà X bồi thường 100.000.000 đồng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đình Q. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc nhà đất ngày 27/11/2017 giữa ông Nguyễn Đình Q và bà Phí Thị X vô hiệu. Buộc bà Phí Thị X có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Đình Q và bà Nguyễn Thanh L3 số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng. Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà X kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc buộc bà phải trả cho ông Q, bà L3 số tiền đặt cọc còn lại là 50.000.000 đồng và phải chịu án phí trên số tiền trên, bà đề nghị sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định: Cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đầy đủ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định hợp đồng đặt cọc ký kết giữa hai bên vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sự là có cơ sở. Trong suốt quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa xét xử phúc thẩm bà H đều không lên tòa trình bày ý kiến, do đó có cơ sở xác định bà H chỉ sai lô đất và lô đất thật mà bà X muốn bán không phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà của ông Q nên dẫn đến không tiếp tục được việc mua bán. Các bên đương sự đều không có yêu cầu bồi thường, cấp sơ thẩm căn cứ Điều 131 BLDS để giải quyết hậu quả là phù hợp. Bà X đã trả cho ông Q 50.000.000 đồng, do đó phải có nghĩa vụ trả nốt số tiền 50.000.000 đồng còn lại và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp quy định pháp luật.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn – bà Phí Thị X, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.

24 - 31

05

Bản án số 36/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

Nội dung vụ án:

Vào năm 2017, vợ chồng bà Th1 có thỏa thuận bán cho vợ chồng ông T, bà Th một phần đất do vợ chồng bà Th1 đang sử dụng, nhưng quyền sử dụng đất do ông M là anh chồng bà Th1 đứng tên.

Các bên thỏa thuận mức giá là 115.000.000đ công tầm cắt là 1.296m2, có làm giấy tay với nhau. Hai bên có thỏa thuận chừa đường nước ngang khoảng 1m dài khoảng 60m cho hộ canh tác đất phía sau sử dụng. Sau khi giao tiền và hợp đồng chuyển nhượng đã công chứng chứng thực.

Sau đó, ông T bà Th có nộp hồ sơ tại Văn phòng một cửa để làm thủ tục sang tên, khi cán bộ đo đạc đến đo hiện trạng thì không thống nhất trụ ranh, nên không tiến hành đo đạc và phần đường nước do diện tích nhỏ không thể tách thửa được.

Phía ông M cho rằng đất này trước đây ông bán cho ông B và bà Th1 bằng miệng không làm giấy tờ. Sau đó mới thỏa thuận bán lại cho ông bà Th, khi đo đạc thì phía ông M yêu cầu chừa lại đường nước cho hộ phía sau sử dụng các bên không thống nhất được nên không thực hiện được hợp đồng. Nay, ông T, bà Th yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/10/2017 mà các bên đã ký kết; đồng ý chừa đường nước theo hiện trạng đã đo vẽ.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên:

Không chấp nhận yêu cầu của ông T, bà Th yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/10/2017 giữa ông T, bà Th với ông M, bà N là vô hiệu. Buộc ông Văng Công M, bà Phan Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đỗ Tấn T (Ph), Bà Trần Thị Thanh Th số tiền 100.000.000đ. Ông Đỗ Tấn T (Ph), Bà Trần Thị Thanh Th có nghĩa vụ trả cho ông Văng Công M, bà Phan Thị N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01246 QSDD/oB được Ủy ban nhân dân huyện CM cấp ngày 03/7/1993 thuộc thửa số 3180, tờ bản đồ số 01, do Ủy ban nhân dân huyện CM cấp cho ông Văng Công M.

Ngày 28/11/2018, ông T và bà Th kháng cáo toàn bộ bản án.

Nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm:

Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 16/10/2017, có công chứng chứng thực theo quy định; Tuy nhiên tại các lời khai của các đương sự đều thống nhất thỏa thuận giá chuyển nhượng 115.000.000đ/1.296m2 (Công tầm cắt), nhưng trong hợp đồng chỉ để chuyển nhượng giá 155.796.000đ cho cả diện tích 4.050m2 là không đúng thỏa thuận ban đầu, nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng nguyên đơn đã thừa nhận; Theo định quy định tại khoản 2 Điều 124 của Bộ luật Dân sự 2015 đây được xem là hợp đồng giả tạo.

Mặt khác, theo thỏa thuận ban đầu có chừa đường dẫn nước vào đất ông C, nhưng khi ký kết hợp đồng lại không ghi cụ thể diện tích bao nhiêu là có sự nhầm lẫn theo quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật Dân sự làm cho các bên không đạt được mục đích như thỏa thuận ban đầu; Quá trình giải quyết các đương sự không yêu cầu xác định lỗi khi hợp đồng vô hiệu để bồi thường và trong trường hợp này giá trị thỏa thuận chuyển nhượng ban đầu cao hơn giá trị do Hội đồng định giá xác định, nên không gây thiệt hại cho bên mua, lẫn bên bán nên không xem xét yếu tố lỗi để hoàn chênh lệch cho nhau.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà Th. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

32 - 40

06

Bản án số 386/2017/DS-ST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

Về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở”

Nội dung vụ án: Ông Lê Hoài K đã thế chấp toàn bộ bất động sản cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay tín dụng của Công ty Kim C. Được sự đồng ý của Ngân hàng, ông Lê Hoài K rao bán, chuyển nhượng bất động sản để thanh toán một phần khoản nợ của Công ty Kim C.

Thông qua sự môi giới và làm chứng của ông Sửu, ngày 18/9/2015 ông Lê Hoài K, ông Văn Tiến H ký kết Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà với nội dung: Ông Lê Hoài K bán, chuyển nhượng cho ông Văn Tiến H toàn bộ bất động sản với hiện trạng nhà đã bị sập, đất khuôn viên 733m2 100% là đất thổ cư và có thời gian sử dụng lâu dài, giá mua bán, chuyển nhượng là 47.500.000 đồng/m2, tổng giá trị hợp đồng là 34.817.500.000 đồng.

Cùng ngày ký Hợp đồng, ông Văn Tiến H đã đặt cọc cho ông Lê Hoài K số tiền 3.000.000.000 đồng và thỏa thuận thanh toán đợt 2 số tiền số tiền 30.817.5000.000 đồng trước ngày 06/10/2015 ngay sau khi ký hợp đồng mua bán tại phòng công chứng, thanh toán đợt 3 số tiền là 1.000.000.000 đồng sau khi hoàn tất các thủ tục khai thuế và bên ông Văn Tiến H được công nhận quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp bất động sản.

Ngày 06/10/2015 ông Văn Tiến H, ông Lê Hoài K, ông Nguyễn Văn S gặp nhau và ông Văn Tiến H nhận được bản phô tô “Bản đồ hiện trạng vị trí” của bất động sản đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 30/9/2015 thì mới biết một phần bất động sản có diện tích 153,78 m2 bị quy hoạch nằm trong ranh công viên cây xanh.

Ngày 26/10/2015 ông Văn Tiến H và ông Lê Hoài K có mặt tại Văn phòng Công chứng P. Tại đây, ông Lê Hoài K đổi lại bản vẽ hiện trạng vị trí nhà - đất bằng bản đồ hiện trạng vị trí đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 23/10/2015 (ông Văn Tiến H chỉ nhận được bản photo). Theo bản vẽ này thì phần diện tích bị quy hoạch công viên cây xanh không có gì thay đổi so với bản đồ hiện trạng vị trí ký ngày 30/9/2015.

Ngày 10/11/2015, ông Văn Tiến H, ông Lê Hoài K có mặt tại Ngân hàng và lúc này ông Văn Tiến H mới biết: Ông Lê Hoài K đã thế chấp bất động sản cho Ngân hàng để bảo đảm khoản nợ vay của Công ty do ông Lê Hoài K làm giám đốc. Ông Văn Tiến H đề nghị giảm giá đối với phần diện tích đất bị quy hoạch công viên cây xanh hoặc trả lại số tiền đặt cọc nhưng ông Lê Hoài K không đồng ý.

Từ sự việc nêu trên giữa ông Văn Tiến H và ông Lê Hoài K xảy ra tranh chấp, không tiếp tục thực hiện Hợp đồng. Nay ông H yêu cầu được tiếp tục thực hiện hợp đồng và đồng ý giữ nguyên giá đã thỏa thuận ban đầu. Trường hợp ông Lê Hoài K không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng thì trả lại cho ông Văn Tiến H số tiền cọc là 3.000.000.000 đồng vì đã che giấu thông tin một phần bất động sản bị quy hoạch.

Nhận định của Tòa án nhân dân sơ thẩm: Các bên tự nguyện giao kết với nhau bằng văn bản về việc đặt cọc mua bán, chuyển nhượng bất động sản thuộc sở hữu, sử dụng hợp pháp của bị đơn và được bên đang nhận thế chấp là Ngân hàng cho giao dịch nên Hợp đồng mà các bên ký kết phù hợp với quy định của pháp luật về mặt hình thức.

Việc bị đơn là bên bán, chuyển nhượng không thông báo cho nguyên đơn là bên mua, nhận chuyển nhượng được biết về tình trạng pháp lý của nhà - đất mua bán, chuyển nhượng đã thế chấp cho ngân hàng cũng như thông tin quy hoạch đối với phần đất khuôn viên nên đã làm cho nguyên đơn bị nhầm lẫn nên mới ký kết Hợp đồng. Gây thiệt hại đến quyền lợi của nguyên đơn vì bị hạn chế quyền xây dựng công trình đối với phần diện tích đất có quy hoạch.

Ngoài ra, khi đặt cọc, nguyên đơn cũng không được bị đơn thông báo về việc bất động sản đã thế chấp cho Ngân hàng. Có đủ căn cứ để xác định Hợp đồng mua bán nhà do nguyên đơn, bị đơn ký kết ngày 18/92015 bị vô hiệu về nội dung do bị nhầm lẫn theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2005. Hợp đồng không thể tiếp tục thực hiện được mà các bên phải có trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự 2005.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Tuyên bố hợp đồng đặt cọc mua bán nhà do ông Văn Tiến H, ông Lê Hoài K ký ngày 18/9/2015 bị vô hiệu do nhầm lẫn. Buộc ông Lê Hoài K hoàn trả cho ông Văn Tiến H số tiền cọc là 3.000.000.000 đồng.

41 - 54

07

Bản án số 894/2017/DS-PT ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu căn hộ”

Nội dung vụ án: Ngày 22/5/2013, Ông A và bà B ký hợp đồng số OS11-A3-2C mua căn hộ số A3-0202 của Công ty C. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông A, bà B đã thanh toán cho Công ty C số tiền 2.040.294.413 đồng, tương đương 50% giá trị hợp đồng.

Ông bà AB cho rằng hợp đồng trên được ký kết không đúng quy định của pháp luật, bởi vì người đại diện cho Công ty C là ông Nguyễn Thế H không được ủy quyền hợp pháp để ký kết hợp đồng, do đó hợp đồng vô hiệu.

Ông bà AB yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố hợp đồng mua bán số OS11-A3-2C ngày 22/5/2013 đối với căn hộ số A3-0202 với Công ty C là vô hiệu. Yêu cầu Công ty C bồi thường tiền lãi theo lãi suất mà ông bà vay của Ngân hàng I 10.5%/năm trên số tiền 2.040.294.413 đồng; và bồi thường tiền thuê nhà 8.500.000 đồng/tháng, thời hạn thuê tính từ ngày 29/5/2013 đến ngày có bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Mai Xuân A và bà Đinh Thị Hải B; Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn: Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ số OS11-A3-2C ngày 22/5/2013 giữa Công ty C và ông Mai Xuân A, bà Đinh Thị Hải B, buộc ông Mai Xuân A, bà Đinh Thị Hải B phải thanh toán cho Công ty C khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng, bàn giao lại căn hộ.

Ngày 21/6/2016, ông A, bà B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định: Việc ông Nguyễn Thế H ký hợp đồng mua bán nhà ngày 22/5/2013 với nguyên đơn với tư cách là Tổng giám đốc – đại diện theo pháp luật của Công ty C chứ không phải là người đại diện theo uỷ quyền.

Bị đơn cho rằng ông Nguyễn Thế H được ông Ki Woo X uỷ quyền theo giấy uỷ quyền ngày 09/01/2013, được Hội đồng quản trị giao quyền thực hiện việc mua bán 700 căn hộ tại chung cư Imperia An Phú nhưng theo tài liệu nguyên đơn giao nộp là giấy xác nhận ngày 07/7/2016 ký tên Ki Woo X thì ông Ki Woo X không còn làm việc tại Công ty C từ sau ngày 31/12/2012. Đây là tài liệu có liên quan trực tiếp đến giá trị pháp lý của giấy uỷ quyền ngày 09/01/2013 nhưng chưa được xem xét, đối chất về tính xác thực của tài liệu này.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn – ông Mai Xuân A, bà Đinh Thị Hải B. Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án về cho Toà án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

55 - 63

08

Bản án số 95/2019/DS-PT ngày 18/7/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dựng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Nội dung vụ án: Ngày 01/3/2012, Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 068656 công nhận bà Nguyễn Thị A và bà Nguyễn Thị T có quyền sử dụng 363m2 đất trồng cây hàng năm, thuộc thửa số 405, tờ bản đồ số 18, khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ.

Ngày 23/3/2012, Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 068832 công nhận bà A và bà T có quyền sử dụng 630m2 đất ở và đất trồng cây, thuộc thửa số 406, tờ bản đồ 18, khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ.

Ngày 20/4/2016, ông H mời bà A, bà T đến nhà ông H làm thủ tục chuyển nhượng đất; lợi dụng bà A, bà T tuổi cao, không biết chữ, không am hiểu pháp luật, bà T còn mắt kém, nặng tai nên H lừa dối ghi nội dung bà A, bà T chuyển nhượng cho ông H toàn bộ thửa đất 406 và thửa 405.

Đến tháng 4/2017 khi đến UBND phường Đ xin hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo thì bà A, bà T mới phát hiện sự việc.

Ngày 21/3/2018, bà A, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập tại Văn phòng công chứng T ngày 20/4/2016 giữa 02 Bà với vợ chồng ông H, bà T2 (chuyển nhượng 184m2 đất là một phần của thửa số 405 diện tích 363m2; chuyển nhượng toàn bộ 630m2 thuộc thửa 406) vô hiệu; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 976408 mà UBND thành phố Đ cấp cho ông H, bà T2 ngày 16/5/2016 đối với diện tích đất 814m2 tại thửa 406 (406+408), tờ bản đồ số 18, khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị T. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu, hủy GCNQSDD đã cấp cho ông H, bà T2.

Chấp nhận một phần yêu cầu của vợ chồng ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị Tân, buộc bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị T phải trả cho ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị T2 tổng số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 26/11/2018, vợ chồng ông H, bà T2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm xác định 02 giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định tại Điều 126 Bộ luật dân sự 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Do 02 giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức) hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CD 976408 mà UBND thành phố Đ cấp cho ông H, bà T2 ngày 16/5/2016 đối với quyền sử dụng 814m2 đất, thửa số 406 (406+408), tờ bản đồ số 18, khu phố Đ, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị là có cơ sở, đúng pháp luật.

Về hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy ngoài việc đủ cơ sở xác định 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định tại Điều 126 Bộ luật dân sự 2015 thì còn có dấu hiệu để xác định 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu do bị lừa dối theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự 2015 vì cụ A và cụ T không biết chữ, nhưng ông H vẫn chở 2 Cụ đến Văn phòng công chứng và mặc dù không có người làm chứng, nhưng ông H vẫn bảo 2 Cụ điểm chỉ vào Hợp đồng; như vậy, cần xác định lỗi trong việc xác lập 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu nêu trên hoàn toàn thuộc về bên nhận chuyển nhượng (vợ chồng ông H). Vì 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là đúng pháp luật.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị T2, giữ nguyên quyết định tại Bản án dân sự sơ thẩm.

64 - 72

09

Bản án số 105/2017/DS-PT ngày 21/6/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh

Về việc “Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản”

Nội dung vụ án: Ngày 02-10-2014, Công ty KH tổ chức bán đấu giá phần đất diện tích 219m2 (trong đó có 100m2 đất ONT), thuộc thửa 97, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại khu phố 1, thị trấn L4, huyện L4, tỉnh Tây Ninh; do Chi cục Thi hành án dân sự huyện L4 kê biên, cưỡng chế của ông Trần Thanh D và bà Lê Kim H để thi hành án.

Bà L đã mua trúng giá 213.900.000 đồng, theo Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số: 392/2014/HĐMB-KH ngày 02-10-2014. Sau khi giao tài sản, năm 2015, bà L xây nhà thì bị cán bộ địa chính thị trấn L4 ngăn cản vì trong diện tích 219m2 đất của bà L mua đấu giá có 154m² nằm trong quy hoạch đường giao thông, bà L không được phép xây dựng.

Biết mình bị nhầm lẫn khi mua, bà L khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch bán đấu giá tài sản giữa bà và Công ty KH là vô hiệu, yêu cầu Công ty KH phải trả lại cho bà L số tiền 213.900.000 đồng đã nộp khi mua đấu giá; Công ty KH và Thi hành án huyện L4 phải liên đới bồi thường cho bà L các thiệt hại phát sinh.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L đối với Công ty KH về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”.

Ngày 19/9/2016, bà K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định: Theo sơ đồ thửa đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L thì phần diện tích đất nằm ngoài quy hoạch chỉ còn lại 65m2 trong khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi diện tích đất ONT là 100 m2.

Việc thực hiện quyền của người mua đấu giá tài sản của bà L không được bảo đảm do bị hạn chế quyền của người sử dụng đối với đất quy hoạch theo quy định tại Khoản 2, Điều 49 của Luật Đất đai 2013.

Bà L đã bị nhầm lẫn vì khi mua đấu giá không được tổ chức bán đấu giá cung cấp thông tin về việc đất có quy hoạch, không được xây dựng, trong khi thông tin này đã có trước khi bán đấu giá; phần diện tích còn lại chỉ có chiều ngang 1,6m không thể sử dụng làm đất ở như trong giấy chứng nhận đã ghi.

Vì vậy, bà L khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch bán đấu giá vô hiệu là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng chưa có thiệt hại xảy ra và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là không có căn cứ. Nguyên nhân làm cho bà L nhầm lẫn là do bên có tài sản bán đấu giá là Thi hành án huyện L4 không xác minh đầy đủ các thông tin liên quan đến quyền sử dụng đất bán đấu giá và do bên tổ chức bán đấu giá là Công ty KH không kiểm tra, dẫn đến hậu quả là quyền sử dụng đất của bà L bị hạn chế.

Do đó, cần phải hủy kết quả bán đấu giá theo quy định tại Điều 102 của Luật Thi hành án dân sự 2008; do hủy kết quả bán đấu giá nên Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số: 392/2014/HĐMB-KH ngày 02-10-2014, giữa Công ty KH và bà L là vô hiệu.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L; sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L đối với Công ty KH, về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu. Hủy kết quả bán đấu giá tài sản giữa Công ty KH và bà Nguyễn Thị Kim L, theo Biên bản bán đấu giá tài sản ngày 02/10/2014. Tuyên bố Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số: 392/2014/HĐMB-KH ngày 02 tháng 10 năm 2014 giữa Công ty KH và bà Nguyễn Thị Kim L là vô hiệu. Các bên có nghĩa vụ hoàn trả những gì đã nhận. Yêu cầu bồi thường thiệt hại được tách ra giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác nếu bà K có yêu cầu.

73 - 82

10

Bản án số 10/2016/DS-PT ngày 20/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng

Về việc “Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng dân sự vô hiệu một phần”

Nội dung vụ án: Ông N và Bà L chuyển nhượng thửa đất có số 106, tờ bản đồ số 03, tại: Phố H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng với diện tích là 252m2 cho ông H và bà Đ với giá 350.000.000 đồng nhưng ghi trong hợp đồng là 180.000.000 đồng nhằm giảm tiền thuế. Vì tin tưởng nên khi chuyển nhượng và làm GCNQSDĐ, ông H không tiến hành đo lại đất.

Đến tháng 03/2013, ông làm nhà nên đo đạc lại diện tích đất mới phát hiện thửa đất nhận chuyển nhượng thiếu gần 50m2. Cho rằng gia đình ông P (hàng xóm sát vách) lấn chiếm nên hai bên xảy ra tranh chấp. Ông P kiện ra tòa. Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng đã có hiệu lực pháp luật khẳng định diện tích đất tranh chấp 46,86m2 thuộc quyền sử dụng của gia đình ông P. Vì vậy, ông H khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng dân sự vô hiệu một phần và yêu cầu bà L, ông N trả lại số tiền mua diện tích không được sử dụng.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Bác yêu cầu hủy hợp đồng dân sự vô hiệu một phần đối với ông Triệu Đức H và bà Đàm Thị Đ về việc yêu cầu bà Hà Thị L và ông Hoàng Văn N phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền do diện tích đất bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số tiền 50.000.000đ.

Sau đó, ông H kháng cáo vì không nhất trí với bản án sơ thẩm

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định: Bản án sơ thẩm xác định bà L ông N hoàn toàn không có lỗi trong việc thiếu hụt diện tích đất và bác yêu cầu khởi kiện của ông H là chưa đánh giá khách quan toàn diện các chứng cứ của vụ án.

Cấp phúc thẩm thấy rằng việc để xảy ra sự nhầm lẫn này là do cả hai bên (bà L, ông N và ông H, bà Đ). Mặc dù ông N bà L không cố tình làm tăng diện tích đất để bán nhưng việc cung cấp GCNQSD đất và cam đoan với bên mua đã làm cho bên mua tin tưởng diện tích thửa đất là 252m2. Nếu không có GCNQSD đất của ông N bà L thì ông H không thể tự xác định diện tích thửa đất là 252m2 và thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng với số tiền 350.000.000đ.

Đối với ông H và bà Đ có lỗi là khi mua bán không kiên quyết yêu cầu bên bán đo diện tích thực tế là không thực hiện quyền của bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là "yêu cầu bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất giao đủ diện tích" theo Điều 702 BLDS nên mới dẫn đến tranh chấp hiện nay nên hai bên có lỗi ngang nhau. Xét yêu cầu kháng cáo của ông H yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu đối với diện tích đất 48,6m2 và yêu cầu ông N bà L trả lại một khoản tiền là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên: Chấp nhận kháng cáo của đồng nguyên đơn Triệu Đức H và Đàm Thị Đ. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 08/2016/DS-ST ngày 24/6/2016 của Toà án nhân dân thành phố C. Tuyên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và Tài sản gắn liền trên đất vô hiệu một phần do nhầm lẫn đối với diện tích 46,86m2. Ông N và bà L phải trả lại cho ông H và bà Đ 20.000.000 đồng.

83 - 92

11

Bản án số XX/2007/KDTM-ST ngày 18/10/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc “Tranh chấp giữa thành viên công ty về hợp đồng góp vốn”

Nội dung vụ án: Giữa ông Trường và bà Thu có ký hợp đồng thỏa thuận hợp tác thành lập Công ty CP Đầu tư Thẩm Mỹ Xuân Trường. Sau khi hoạt động được 2 tháng, bà Thu tự ý đóng cửa Công ty, ngưng hợp đồng với ông Trường trước thời hạn, tự ý cất giấu toàn bộ hồ sơ giấy phép, dấu mộc của Công ty và khoá cửa không cho nhân viên của ông Trường vào làm việc.

Do bà Thu vi phạm hợp đồng ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Trường nên ông khởi kiện yêu cầu bà Thu phải bồi thường các thiệt hại phát sinh gồm tiền phạt đã thỏa thuận tại điều 6 của hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 21/4/2006 là 800.000.000 đồng tương đương với 50.000 USD và trả lại bằng tiền là 404.788.960 đồng, đây là trị giá toàn bộ trang thiết bị mà Công ty đã đầu tư trong thời gian hoạt động.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Đại diện nguyên đơn thừa nhận trước khi hợp tác kinh doanh với bị đơn thì ông Trường đã hoạt động hành nghề phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ tại Trung tâm chăm sóc sắc đẹp Xuân Phương ở số 55 Trương Định Quận 1 TP.Hồ chí Minh.

Khi thực hiện việc hành nghề này nguyên đơn chưa được cấp chứng chỉ hành nghề nêu trên, việc này được thể hiện trong Công văn số 78 ngày 29/82006 của Thanh tra Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện ông Trường hành nghề không có bằng cấp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp nên đã bị phạt theo quy định.

Như vậy, việc bị đơn cho rằng đã bị lừa dối khi ký hợp đồng hợp tác là có cơ sở, bởi lẽ, tại Điều 3 trong hợp đồng ghi rõ ông Đỗ Xuân Trường chịu trách nhiệm về chuyên môn phẫu thuật. Căn cứ theo Điều 131 Bộ luật dân sự 2005 quy định có cơ sở để xác định hợp đồng hợp tác ngày 21/4/2006 bị vô hiệu toàn bộ do bị nhầm lẫn ngay từ thời điểm xác lập vì nguyên đơn đã cố ý làm cho bị đơn nhầm lẫn về nội dung giao dịch mà xác lập việc giao dịch trên với nguyên đơn.

Vì vậy, căn cứ Điều 137 Bộ luật Dân sự quy định thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập, do đó, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền.

Bị đơn không có lỗi trong việc giao dịch này vì ý chí của hai bên khi ký thỏa thuận hợp tác kinh doanh ngày 21/4/2006 thì ngoài các ngành nghề được phép kinh doanh còn phải có hoạt động hành nghề về phẫu thuật, trong khi, ông Trường không có bằng cấp về chuyên môn phẫu thuật nên thỏa thuận này là trái luật.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên: Tuyên bố hợp đồng thỏa thuận hợp tác lập ngày 21/4/2006 ký giữa ông Đỗ Xuân Trường và bà Phạm Thị Kiều Thu bị vô hiệu toàn bộ. Kiến nghị Sở kế hoạch và đầu tư TP. Hồ Chí Minh xử lý vi phạm đối với Công ty CP Đầu tư Thẩm Mỹ Xuân Trường. Không chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của ông Trường.

93 - 100

12

Bản án số 380/2006/KDTM-ST ngày 01/8/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”

Nội dung vụ án: Ngày 7/7/2003, Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Sản xuất Việt Á Châu và Công ty TNHH Connell Bros có ký hợp đồng mua bán số 241/03-VU và số 243/03-VU với nội dung Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Sản xuất Việt Á Châu mua của Công ty TNHH Connell Bros 26.160kg hóa chất Myflame 8452E trị giá là 75.864USD.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do Connell Bros bán cho Việt Á Châu hàng hóa không đạt chất lượng dẫn đến thiệt hại khi Việt Á Châu gia công 100.000m vải nhưng bị Xí nghiệp may Bình Thanh từ chối thanh toán. Do Connell Bros không giải quyết việc khắc phục thiệt hại, Việt Á Châu khởi kiện yêu cầu Connell Bros phải bồi thường thiệt hại với số tiền là 121.000USD.

Nhận định của Tòa án: Xét các bên thỏa thuận mua bán sản phẩm để dùng cho vật liệu cho sản phẩm da tổng hợp PO là loại vật liệu không có thực, căn cứ vào điều 141 Bộ Luật dân sự 1995 thì hợp đồng số 241 và 243 bị vô hiệu do nhầm lẫn.

Việc xử lý hợp đồng vô hiệu đối với sản phẩm Myflame 84527E căn cứ vào điều 39 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế để xử lý như sau: “Các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau tất cả tài sản đã nhận được từ việc thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp không thể trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền… Thiệt hại phát sinh, các bên tự gánh chịu”.

Từ việc xử lý hợp đồng vô hiệu nói trên, Hội đồng xét xử bác yêu cầu của Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu trong việc đòi Công ty TNHH Connell Bros bồi thường thiệt hại 1.845.328.082 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: Vô hiệu hợp đồng mua bán số 241/03 – VU ký ngày 07-7-2003 và số 243/03 – VU ký ngày 11-7-2003 giữa Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu và Công ty TNHH Connell Bros.

- Bác yêu cầu của Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu trong việc đòi Công ty TNHH Connell Bros bồi thường thiệt hại 1.845.328.082 đồng.

- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Connell Bros, buộc Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu có nghĩa vụ hoàn trả Công ty TNHH Connell Bros 33 thùng Myflame 84527E và số tiền là 52.896USD, trị giá của 67 thùng Myflame 84527E mà Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu đã sử dụng.

- Thiệt hại phát sinh, các bên tự gánh chịu.

101 - 108

XEM BẢN ÁN VÀ TẢI FILE PDF: TỔNG HỢP 12 BẢN ÁN GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng:

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

 

 

Các bài viết khác

Hotline tư vấn:
Zalo